[IELTS] Reading 8 T1P1 – A Chronicle of Timekeeping

A Chronicle of Timekeeping

Our conception of time depends on the way we measure it

A    According to archaeological(khảo cổ học) evidence(bằng chứng), at least 5,000 years ago, and long before the advent(sự du nhập) of the Roman Empire, the Babylonians began to measure(đo lường) time, introducing calendars to coordinate(kết hợp) communal activities, to plan the shipment of goods and, in particular, to regulate(điều chỉnh) planting and harvesting. They based their calendars on three natural cycles(chu kỳ): the solar day, marked by the successive(liên tiếp) periods of light and darkness as the earth rotates(xoay quanh) on its axis(trục); the lunar month, following the phases of the moon as it orbits(quay quanh quỹ đạo) the earth; and the solar year, defined by the changing seasons that accompany(theo) our planet’s revolution(vòng quanh) around the sun.

Theo các bằng chứng khảo cổ học, ít nhất 5000 năm trước, từ rất lâu trước khi Đế quốc La Mã xâm chiếm, người Babylon đã bắt đầu tính được thời gian, làm ra lịch để kết hợp với các hoạt động cộng đồng, lập kế hoạch vận chuyển hàng hóa đường thủy, và đặc biệt, điều phối công việc trồng trọt và gặt hái. Lịch của họ dựa vào ba chu kỳ tự nhiên: ngày dương lịch, tính bằng sự tuần hoàn liên tiếp của ngày và đêm khi trái đất tự xoay quanh trục của chính nó; tháng âm lịch, dựa theo chu trình mặt trăng quay quanh trái đất; và năm dương lịch, được xác định bằng sự thay đổi mùa khi hành tinh của chúng ta quay quanh mặt trời.

B    Before the invention of artificial(nhân tạo) light, the moon had greater social impact. And, for those living near the equator(đường xích đạo), in particular, its waxing and waning(tròn và khuyết của mặt trăng) were more conspicuous(dễ thấy) than the passing of the seasons. Hence(do đó), the calendars that were developed at the lower latitudes(vĩ độ) were influenced(ảnh hưởng) more by the lunar cycle than by the solar year. In more northern climes(vùng), however, where seasonal agriculture was practised, the solar year became more crucial(chủ yếu). As the Roman Empire expanded(mở rộng) northward, it organised its activity chart for the most part around the solar year.

Trước khi có ánh sáng nhân tạo, mặt trăng có ảnh hưởng lớn hơn tới xã hội. Và với những nơi gần đường xích đạo, sự tròn khuyết của mặt trăng dễ dàng thấy rõ hơn khi giao mùa. Do đó, lịch được xây dựng ở những vùng vĩ độ thấp bị ảnh hưởng bởi cách tính theo mặt trăng hơn là theo mặt trời. Tuy nhiên, ở những vùng phía Bắc, nơi áp dụng hình như nông nghiệp theo mùa vụ, lịch dương lại phổ biến hơn. Khi Đế quốc La Mã mở rộng về phía Bắc, các biểu đồ hoạt động được thiết lập dựa theo năm dương lịch.

C    Centuries before the Roman Empire, the Egyptians had formulated a municipal(thuộc thành phố) calendar having 12 months of 30 days, with five days added to approximate the solar year. Each period of ten days was marked by the appearance of special groups of stars called decans. At the rise of the star Sirius(sao Thiên Lang) just before sunrise, which occurred(xảy ra) around the all-important annual flooding(lũ lụt) of the Nile, 12 decans could be seen spanning(dải) the heavens. The cosmic(vũ trụ) significance(ý nghĩa) the Egyptians placed in the 12 decans led them to develop a system in which each interval(khoảng thời gian) of darkness (and later, each interval of daylight) was divided into a dozen(12) equal parts. These periods became known as temporal(thuộc thời gian) hours because their duration(thời gian) varied according to the changing length of days and nights with the passing of the seasons. Summer hours were long, winter ones short; only at the spring and autumn equinoxes(xuân phân và thu phân) were the hours of daylight and darkness equal. Temporal hours, which were first adopted((làm theo) by the Greeks and then the Romans, who disseminated(reo rắc) them through Europe, remained in use for more than 2,500 years.

Nhiều thế kỷ trước Đế chế La Mã, người Ai Cập đã tính được lịch riêng của mình gồm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, cộng thêm 5 ngày để xấp xỉ bằng năm dương lịch. Mỗi khoảng cách 10 ngày được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một chòm sao gọi là decan. Vào lúc sao Thiên Lang xuất hiện trước khi bình minh, lũ lụt lớn đã xảy ra trên sông Nile hàng năm, 12 dải decan được nhìn thấy trên trời.

D    In order to track temporal hours during the day, inventors created sundials(đồng hồ mặt trời), which indicate(thể hiện) time by the length or direction of the sun’s shadow. The sundial’s counterpart(bản sao), the water clock, was designed to measure temporal hours at night. One of the first water clocks was a basin(bồn nước) with a small hole near the bottom through which the water dripped(chảy) out. The falling water level denoted(biểu thị) the passing hour as it dipped(đổ xuống) below hour lines inscribed on the inner(bên trong) surface. Although these devices(thiết bị) performed satisfactorily around the Mediterranean, they could not always be depended on in the cloudy and often freezing weather of northern Europe.

E    The advent(ra đời) of the mechanical clock meant that although it could be adjusted(điều chỉnh) to maintain(duy trì) temporal hours, it was naturally suited to keeping equal ones. With these, however, arose(xuất hiện) the question of when to begin counting, and so, in the early 14th century, a number of systems evolved(tiến triển). The schemes(sơ đồ) that divided the day into 24 equal parts varied according to the start of the count: Italian hours began at sunset, Babylonian hours at sunrise, astronomical(thuộc thiên văn) hours at midday and ‘great clock’ hours, used for some large public clocks in Germany, at midnight. Eventually, these were superseded(thay thế) by ‘small clock’, or French, hours, which split the day into two 12-hour periods commencing(bắt đầu) at midnight.

F    The earliest recorded weight-driven(điều khiển theo trọng lượng) mechanical clock was built in 1283 in Bedfordshire in England. The revolutionary(tính cách mạng) aspect(khía cạnh) of this new timekeeper was neither the descending(đi xuống) weight that provided its motive force nor the gear wheels(bánh răng) (which had been around for at least 1, 300 years) that transferred the power; it was the part called the escapement(bộ thoát). In the early 1400s came the invention of the coiled spring(lo xo xoắn) or fusee(bánh côn) which maintained a constant(bền) force to the gear wheels of the timekeeper despite the changing tension(sức ép) of its mainspring(lò xo chính). By the 16th century, a pendulum(quả lắc) clock had been devised(phát minh), but the pendulum swung(treo lủng lẳng) in a large arc(vòng cung) and thus was not very efficient.

G    To address this, a variation(biến thể) on the original escapement was invented in 1670, in England. It was called the anchor escapement(bộ thoát neo), which was a lever-based(đòn bẩy) device(thiết bị) shaped like a ship’s anchor(mỏ neo tàu thủy). The motion of a pendulum rocks this device so that it catches and then releases(giải phóng) each tooth of the escape wheel, in turn allowing it to turn a precise(chính xác) amount. Unlike the original form used in early pendulum clocks, the anchor escapement permitted(cho phép) the pendulum to travel in a very small arc. Moreover, this invention allowed the use of a long pendulum which could beat once a second and thus led to the development(dẫn tới sự phát triển) of a new floor-standing(nền móng) case design, which became known as the grandfather clock.

H    Today, highly accurate(chính xác) timekeeping instruments set the beat for most electronic devices. Nearly all computers contain(chứa) a quartz-crystal(tinh thể thạch anh) clock to regulate(điều chỉnh) their operation. Moreover, not only do time signals beamed down(truyền) from Global Positioning System(hệ thống định vị toàn cầu) satellites calibrate(kiểm tra) the functions of precision navigation equipment(thiết bị định vị đường thủy), they do so as well for mobile phones, instant(tức thời) stock-trading(chứng khoán) systems and nationwide power-distribution grids(hệ thống điện lưới quốc gia). So integral(toàn bộ) have these time-based technologies become to day-to-day existence that our dependency on them is recognised only when they fail to work.

Source:

Article: A Chronicle of Timekeeping, Cambridge IELTS 8

Images: Internet

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.