[IELTS] Reading 14 – T2P3 – Why companies should welcome disorder

TIPS for READING

Khi luyện đọc một bài reading, chúng ta nên tập tóm tắt ý chính của đoạn. Vừa là một cách kiểm tra sự đọc hiểu, vừa để ghi lại sự hiểu đó, phòng khi lúc sau trí nhớ não cá lại làm mình quên hết đoạn trước vừa nói gì, nhất là các bài có matching. Nhiều khi mình không cần phải ghi ra quá nhiều đâu, cố gắng tóm lược đoạn đó bằng 1-2 câu, và bạn phải cảm nhân được, ý tác giả đang nói trong đoạn đó là gì. Mình đã tự làm như thế ở bài đọc dưới đây, và nó không phải một bài mẫu, chỉ là một cách luyện tập của một đứa cũng kém như bạn. Bạn có thể thử cách của mình, để xem nó có giúp bạn cải thiện việc đọc hơn không nhé.

Why companies should welcome disorder

A

Organisation is big business. Whether it is of our lives – all those inboxes and calendars – or how companies are structured (được tổ chức, vận hành…), a multi-billion dollar industry helps to meet (v, đáp ứng) this need.

We have more strategies (chiến lược) for time management, project management and self-organisation than at any other time in human history. We are told that we ought to 27organize our company, our home life, our week, our day and seven our sleep, all as a means (phương tiện) to becoming more productive 35(hiệu quả, năng suất). Every week, countless (vô số, không đếm được) seminars and workshops take place around the world to tell a paying public (người trả tiền để tham gia những buổi hội thảo, hướng dẫn) that they ought to structure their lives in order to achieve this.

This rhetoric (bài hùng biện, bài diễn thuyết) has also crept into (đi từ từ, len lỏi vào) the thinking of business leaders and entrepreneurs (doanh nhân), much to the delight (n, sự vui thích) of self-proclaimed perfectionists 36with the need to get everything right. The number of business schools and graduates has massively (nhiều, lớn, ồ ạt) increased over the past 50 years, essentially teaching people how to organise well.

Việc tổ chức/sắp xếp là một việc lớn, từ chuyện quản lí hòm thư hay sắp xếp lịch cho đến việc các công ty được vận hành như thế nào. Chúng ta được bảo là phải biết quản lí, tổ chức tốt, ngày càng có nhiều chiến lược, buổi hội thảo, trường học được mở ra để dạy ta sắp xếp tổ chức mọi việc tốt hơn.

B

Ironically (một cách mỉa mai), however, the number of business that fail has also steadily increased (tăng chậm, dùng câu này trong writing task 1). Work-related stress (áp lực công việc) has increased. A large proportion of workers from all demographics (nhân khẩu học) claim to be dissatisfied (không hài lòng) 28with the way their work is structured and the way they are managed.37

This begs the question (đặt ra, gây ra câu hỏi): what has gone wrong? Why is it that on paper (trên giấy, về lí thuyết) the drive for organisation (nỗ lực cho tính tổ chức) seems a sure shot (một cố gắng, thử nghiệm đúng đắn) for increasing productivity, but in reality falls well short of (fall short of sth = ít hơn kì vọng, tiêu chuẩn) what is expected?

Tuy ở đoạn A, người ta mở nhiều lớp dạy cách tổ chức, nhưng mỉa mai thay, nó lại không hiểu quả, cụ thể qua khảo sát của các nhân viên, khi họ nói rằng mình không hài lòng với cách được quản lí và tổ chức. Vậy lí do là gì?

C

This has been a problem for a while (một thời gian, cũng lâu rồi) now. Frederick Taylor was one of the forefathers (ông tổ, người khai sinh) of scientific management. Writing in the first half of the 20th century, he designed a number of principles (nguyên tắc) to improve the efficiency (sự hiệu quả, năng suất) of the work process, 29which have since become widespread (phổ biến rộng rãi) in modern companies. So the approach (cách tiếp cận, phương pháp) has been around (đã được kinh qua, được thực hành/áp dụng nhiều chỗ, nhiều tình huống) for a while.

Một ông nào đó đề ra một số nguyên tắc để cải thiện năng suất làm việc mà từ đó trở nên phổ biến trong các công ty hiện đại. Và phương pháp đó đã được thử nghiệm một thời gian.

D

New research suggests that this obsession (n, sự ám ảnh) with efficiency is misguided30 (sai lầm, thiếu định hướng, tiền tố mis- = thiếu, nhầm, sai). The problem is not necessarily (trạng từ này bổ sung nghĩa cho từ nào?) the management theories (thuyết) or strategies we use to organise our work (bổ sung nghĩa cho động từ organise); it’s the basic assumptions 30(thành kiến, niềm tin, quan điểm) we hold in approaching how we work. Here it’s the assumption that order (thứ tự) is a necessary condition for productivity. This assumption has also fostered (nuôi dưỡng) the idea that disorder (sự hỗn loạn, thiếu tổ chức) must be detrimental (có hại) to organizational productivity. The result is that businesses and people spend time and money organising themselves for the sake (mục đích) of organising, rather than actually looking at the end goal and usefulness of such an effort. 38(such an effort = từ nào phía trên?)

Đoạn này nói về quan điểm sai lầm rằng: sự hỗn loạn , thiếu trật tự có hại cho năng suất. Nên cuối cùng họ dành thời gian tổ chức sắp xếp chỉ để sắp xếp cho thỏa cái thành kiến trên, chứ không nhìn vào mục đích cuối cùng hay lợi ích của cái việc sắp xếp đó.

E

What’s more, recent studies show that order actually has diminishing (giảm) returns 31(lợi nhuận, lợi ích). Order does increase productivity to a certain extent (một phần), but eventually (cuối cùng) the usefulness of the process of organisation, and the benefit it yields (v, mang lại, đem tới), reduce (chủ ngữ của reduce là gì?) until the point where any further increase in order reduces productivity. Some argue that in a business, if the cost of formally structuring something outweighs (vượt hơn) the benefit of doing it, then that thing ought not to be formally (chính thức, hợp lệ) structured. Instead, the resources involved can be better used elsewhere.

Dù việc sắp xếp có làm tăng năng suất một phần, nhưng lợi ích và giá trị của cái quy trình tổ chức sẽ giảm đến cái đoạn mà dù có cố quản lí sắp xếp thêm nữa thì cũng sẽ chỉ làm giảm năng suất thôi. Cái chi phí để quản lí còn tốn hơn lợi ích nó mang lại thì không nên làm.

F

In fact, research shows that, when innovating, the best approach is to create an environment devoid (be devoid of sth = thiếu cái gì) of structure and hierarchy (bậc, xếp hạng) and enable everyone involved to engage as one organic group. 39These environments can lead to new solutions that, under conventionally (thuyền thống, bảo thủ) structured environments (filled with bottlenecks (chậm chạp, trì hoãn, vì chỗ cổ chai hẹp nên thông tin chẳng đi nhanh được) in term of information flow, power structures, rules, and routines) would never be reached.32

Thực ra một môi trường thiếu tổ chức và thứ bậc để mọi người đều được đóng góp lại tốt hơn, nó tạo ra những giải pháp mới mà cái hệ thống kiểu cũ chả bao giờ làm được.

G

In recent times companies have slowly started to embrace (chấp nhận, áp dụng, làm theo) this disorganisation (tiền tố dis- ~ loại bỏ, phá hủy). Many of them embrace it in terms of perception (nhận thức) (embracing the idea of disorder, as opposed to fearing it) and in terms of process (putting mechanisms in place to reduce structure).

For example, Oticon, a large Danish manufacturer of hearing aids,33 used what it called a ‘spaghetti’ structure in order to reduce the organisation’s rigid hierarchies (cấp bậc cứng nhắc). This involved scrapping (từ chối, loại bỏ) formal job titles and giving staff huge amounts of ownership over their own time and projects. This approach proved to be highly successful initially (ban đầu), with clear improvements in worker productivity in all facets (khía cạnh, mặt) of the business.

In similar fashion, the former chairman of General Electric embraced disorganisation, putting forward (đề xuất, cung cấp) the idea of the ‘boundaryless’ (hậu tố -less ~ không, vô) organisation. Again, it involves breaking down the barriers between different parts of a company and encouraging virtual (thực tế) collaboration and flexible working. Google and a number of other tech companies 33have embraced (at least in part) these kinds of flexible structures, facilitated (hỗ trợ) by technology and strong company values which glue people together.40

Một số nơi đã bắt đầu bỏ đi cái mô hình tổ chức sắp xếp theo cập bậc. Hai ví dụ được đưa ra cho thấy việc bỏ mô hình quản lí có lợi thế nào.

H

A word of warning to others thinking of jumping on this bandwagon (cùng nhau làm việc, hỗ trợ nhau thành công): the evidence so far suggests disorder, much like order, also seems to have diminishing utility (sự có ích = usefulness), and can also have detrimental effects on perforance if overused 34(tiền tố over- ~ quá, vượt qua). Like order, disorder should be embraced only so far as it is useful. But we should not fear it – nor venerate (v, tôn trọng = respect) one over the other. This research also shows that we should continually question whether or not our existing assumptions work.

Đoạn này cảnh báo là cũng đừng làm dụng việc vô tổ chức quá vì có thể sẽ có ảnh hưởng tiêu cực. Cơ mà ta không nên sợ hoặc không nên đề cao cái mà vượt trội hơn…

Questions 27-34

Reading Passage 3 has eight sections, A-H
Choose the correct heading for each section from the list of headings below.
Write the correct number, i-ix, in boxes 27-34 on your answer sheet.

List of Headkings

i           Complaints (phàn nàn) about the impact of a certain approach
ii          Fundamental beliefs (niềm tin nền tảng) that are in fact incorrect
iii         Early recommendations (đề xuất ban đầu) concerning business activities
iv         Organisations that put a new approach into practice
         Companies that have suffered from changing their approach
vi         What people are increasingly expected to do
vii        How to achieve outcomes that are currently impossible
viii       Neither approach guarantees continuous improvement
ix         Evidence that a certain approach can have more disadvantages than advantages

Giải thích tại sao đáp án đó đúng thì nhiều nơi đã làm rồi, nhưng mình thấy xem kiểu giải thích như vậy không giúp chúng ta tiến bộ hơn. Nếu bây giờ, mình sẽ phân tích xem tại sao lại chọn sai.

27   Section A: đoạn này nói về sự phổ biến, sự chạy theo organisation/management, mọi người được bảo là nên có tính kỉ luật/tổ chức. So với đáp án: i-phàn nàn không phải, ii-Fundamental beliefs niềm tin cơ bản có vẻ đúng khi có vẻ như đoạn này nói về việc người ta chạy theo organisation. iii- đề xuất ban đầu cũng có vẻ hợp lí vì người ta đã mở các lớp để mọi người học về organisation mà. v-các công ty thì sai chắc vì đoạn A chưa đề cập đến các công ty nào, mà còn chịu đựng sự thay đổi thì càng không. vi-mọi người được kì vọng đề làm, khá hợp lí vì đoạn A người ta nói chúng ta được bảo rằng nên có tính kỉ luật, là đáp án sát nhất lúc này. vi-kết quả là không thể, đoạn A chưa nói gì đến mục tiêu. viii-không có phương pháp nào đảm bảo.. đoạn này chưa nói pp gì hết nên sai. ix-bằng chứng cho phương pháp mà hại nhiều hơn lợi, sai nốt vì chưa nói gì đến lợi hại. Tóm lại, từ đầu tới giờ mình thấy vi là hợp lí nhất (vì We are told that we ought to = What people are increasingly expected to do), ii, iii cũng hao hao. Nếu chưa chắc chắn ta note cả ba lại để đó.

28   Section B: đoạn B nói về sự thật là theo nhân khẩu học thì các nhân viên không hài lòng với việc tổ chức/quán lí –> ta loại được iii (vì không có đề xuất gì ở đây); iv (vì chưa thấy new approach), v (vì chưa có sự thay đổi approach nào); vi-(không ai được kì vọng cả); vii(không nói đến outcomes) , i- có vẻ đúng vì nói đến phàn nàn (trong đoạn mình có từ dissatified tương đương); viii và ix cũng cảm thấy có sự đúng đúng, khi đều nói về nhược điểm của thứ gì đó. Chưa chắc chắn mình lại note.

29   Section C: một ông nào đó từ đầu thế kỷ 20 đưa ra những nguyên tắc để cải thiện hiệu quả công việc. Liệu có giống early recommendations? lại còn liên quan đến business activities (chính bằng efficiecy of the work process) –> đáp án iii khá khớp. Mình xem qua các đáp án còn lại, cảm thấy v có vẻ cũng phù hợp vì nói đến new approach, nhưng là các công ty áp dụng new approach nên không liên quan, mấy đáp án còn lại đều không liên quan. Cậu này có thể khá chắc chắn chọn iii.

30   Section D: đoạn này nói về chuyện đề cao tính tổ chức là một sai lầm, với cái quan điểm cơ bản (thấy ngày basic assumption = Fundamental beliefs), trên thực tế lại còn sai, thì đúng là đoạn D nói về sự sai lầm (misguided) là cái quan điểm đó không tốt như ta tưởng –> Khá chắc chắc đáp án ii. Cũng có khi ta nhầm với ix nhưng đoạn này không thấy đưa evidence gì cả. viii cũng na ná vì biết đâu đang nói chuyện pp này không thể duy trì tốt mãi được? Không chắc chắn ta cứ note lại.

31   Section E: đoạn này nói rõ là cái pp quản lí đó chẳng tốt đẹp gì, nói đến tiêu cực, ta khoanh được ngay các đáp án i, v, vii, viii, ix. i sai vì không có phàn nàn, mà nó khớp với đoạn B hơn. v: chưa thấy sự thay đổi pp gì, imposible cũng không thấy đề cập, còn viii và ix hợp lí hơn cả nhưng ix rõ ràng hợp lí hơn vì nhắc đến evidence (=recent studies show that) rồi thì pp hiện tại nhiều hại hơn lợi.

32   Section F: ta đọc được một sự tuyệt vọng nhẹ trong đoạn này, là có cố nữa thì cũng chỉ giảm năng suất thôi, cũng là một sự tiêu cực, và nó khớp với imposible –> có thể chọn ngay vii. Nếu bạn cân nhắc v và vii thì cứ note lại.

33   Section G: đoạn này rất dễ, nói về ví dụ các công ty đã áp dụng pp mới và có kết quả tốt thế nào. Chỉ có 2 đáp án nhắc đến các công ty là iv và v, nhưng đoạn này nói về sự áp dụng thành công nên chỉ có thể là iv.

34   Section H: đến giờ ta chắc chắn được bao nhiêu đáp án rồi thì có thể loại bớt ra. Đoạn này lại ba phải khi nói pp mới chưa chắc đã tốt nếu dùng quá đà, tực là chẳng có phương pháp là toàn diện và mãi mãi áp dụng được. Thấy rất giống viii phải không nào.

Bài Matching headings bẫy ở sự na ná nhau giữa các headings, trong khi đó bản thân thí sinh không tóm tắt được ý chính của đoạn tốt dẫn đễn mù mờ trong chọn đáp án. Một cách làm tương đối hiệu quả, đó là hãy nhóm các headings có sự na ná đó lại để loại dần. Tập trung vào chủ thể trong headings, cố tìm keywords tương đồng trong đoạn văn và cơ bản là vẫn phải nắm được đại ý của đoạn để không bị rối. Nếu ta nắm được ý chính của đoạn, ta sẽ dễ dàng nhóm được các đáp án tiềm năng và từ đó chọn lựa dễ dàng hơn.

Có thể các bạn làm không sai những câu như mình sai, nhưng ý mình ở đây là nếu chúng ta sai, hãy phân tích xem tại sao mình sai, thay vì xem câu đúng là gì, xem đáp án rồi thì ai chẳng luận ra được tại sao nó đúng, nhưng phân tích tại sao mình sai mới là khó và mới là điều cần ưu tiên trong luyện tập.

Questions 35-37

Complete the sentences below.
Choose ONE WORD ONLY from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 35-37 on your answer sheet.

35   Numerous training sessions are aimed at people who feel they are not ………………………. enough. (productive)
36   Being organised appeals to people who regard themselves as …………………………… (perfectionists; vì ta có appeal ~ delight)
37   Many people feel ……………………….. with aspects of their work. (dissatisfied) (aspects = việc được tổ chức, cách họ được quản lý)

Bài này khá là dễ, nếu bạn có từ vựng tốt, nắm rõ ngữ pháp để xác định từ loại.

Questions 38-40

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 3?
In boxes 38-40 on your answer sheet, write

TRUE               if the statement agrees with the information
FALSE              if the statement contradicts the information
NOT GIVEN    if there is no information on this

38   Both businesses and people aim at order without really considering its value. (không cân nhắc đến giá trị, ý là cứ lao đầu vào làm mà quên đi mục tiêu cuối cùng, ta tìm được ngay thông tin ở đoạn B, và đúng là cả doanh nghiệp và cá nhân đều thế –> T)

39   Innovation is most successful if the people involved have distinct roles. (việc đổi mới hầu như thành công nếu mỗi người một việc. Ta scan được ngay từ innovative ở đoạn F, và cả câu đó ý nói bỏ cái chuyện phân chia cấp bậc đi, mọi người cùng chung tay vào làm thì mới thành công được. Vậy rõ ràng là trái ngược với ý mỗi người một việc –> F.

40   Google was inspired to adopt flexibility by the success of General Electric. (Google là từ khóa dễ scan, ta thấy Google đã áp dụng sự thành công của General Electric thật và dễ cho đáp án này là T, nhưng cái ý inspired thì không thấy nói gì, mà 2 đáp án trên chưa có NG, nên đáp án này phải là NG.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.